Nhọc nhằn giáo dục Hà Đông
Từ con đường...
“Anh đi vào những ngày này thì vất vả đấy! Từ đây vào trường khoảng 60 km, nhưng phải vượt qua 13 km sình lầy. Trời hôm nay u ám, nếu hên thì đi mất khoảng 2 giờ, còn đen đủi thì… phải bầm trầy hết 4 giờ chưa chắc đã tới. Hôm khai giảng, Chủ tịch UBND huyện Đak Đoa (Gia Lai) có vào dự, nhưng phải bỏ xe giữa rừng rồi điều u-oát trong xã ra chở”- thầy Đỗ Thiện Úy nói như thông báo về khó khăn từ con đường.
![]() |
| Đường vào xã Hà Đông. Ảnh: Thu Nga |
Chúng tôi xuất phát từ trung tâm huyện Đak Đoa. Sau một giờ đồng hồ, vượt qua quãng đường khá xa, có cả hơn chục km đường đất lầy lội, thầy Úy dừng xe, xắn quần và tiếp tục thông báo: “Bắt đầu rồi đó anh”! Cứ tưởng, con đường đất đỏ mà chúng tôi vừa đi qua là những “cây số sình lầy” mà các thầy-cô giáo nơi đây phải “bầm trầy” trong nhiều năm. Hóa ra chưa phải! Trước mắt tôi là một con dốc dài hun hút xuống tận chân núi đã được khoát lên một lớp bùn nhão nhoét. Hai con mương sâu hóm song song đã chiếm hết một nửa phần đường. Mặt đường còn lại trông chẳng khác cái… “lưng trâu”. Thầy Úy cảnh báo: “Anh đừng lắc, kẻo trượt xuống mương”! Tôi ngồi như muốn nín thở. Hai tay bám vào hông “bác tài” để chiếc xe máy chầm chậm xổ dốc bằng số 1. Mới xuống được một con dốc mà chiếc áo của anh đã đẫm mồ hôi.
Chưa kịp xả hơi, một đoạn đường lầy trông như đám ruộng sình tiếp tục thách thức. Không còn lối đi, thầy Úy đành cho xe đi vào một con mương sâu và nhỏ chỉ bằng nửa gang tay. Chúng tôi phải người kéo, người bê, nhích từng bước một để hai gác chân trượt lên trên hai bờ đất. Qua khỏi “đám ruộng sình”, một con dốc dựng đứng lại hiện ra trước mắt. Thầy Úy cho xe “cắm” ngay xuống một con mương thoát nước, rồi vừa rú ga vừa đẩy bộ để lên đến đỉnh đồi. Vì đã thấm mệt, tôi đề nghị ngồi nghỉ. “Bác tài” nhìn trời rồi nói: “Mới chỉ qua được một dốc, chưa hết đâu! Đi nhanh kẻo mưa xuống thì khổ nữa”!
Con đường 13 km nhọc nhằn của các thầy-cô giáo ở Hà Đông cứ liên tục lên dốc, xuống dốc, sình lầy; phải đẩy, phải kéo, phải bê… thì mới có thể đi đến nơi. Hai bên đường đều là rừng núi bạt ngàn. Trong suốt quãng đường nhọc nhằn đó, ngoài chiếc u- oát bị mắt kẹt giữa đám sình, chúng tôi không hề bắt gặp một bóng người qua lại. Qua hết “cửa ải” lầy lội, chúng tôi như vừa được vớt lên từ vũng bùn.
Đến việc “gieo chữ” dưới chân đồi Kon Ngút
Cứ tưởng nỗi nhọc nhằn của các thầy-cô giáo xã Hà Đông chỉ là 13 km sình lầy. Thế nhưng, có tới mới biết họ sống và làm việc như thế nào. Hà Đông là xã hầu hết là người Bahnar, với 5 làng tách biệt bên đồi Kon Ngút. Bao quanh các làng là núi rừng trùng điệp giáp với 2 huyện Mang Yang, Chư Pah và tỉnh Kon Tum. Cô giáo Văn Thị Hồng Diễm dạy ở làng Kon Rơ Ngnak tâm sự: “Mùa đông ở đây lạnh lắm! Gió cứ lồng không thể ngủ được. Nhiều hôm phải sang nhà dân để ngồi sưởi ấm! Còn vào mùa nắng thì lại nóng như thiêu. Giờ nghỉ trưa lại phải tìm ra bóng cây mà ngồi…”!
![]() |
| Một lớp học tại xã Hà Đông. Ảnh: Thu Nga |
Cái khó nơi đây chính là cơ sở vật chất ở các phân hiệu không thể đáp ứng nhu cầu tối thiểu trong đời sống hàng ngày cho giáo viên. Thầy Úy đưa tôi đảo một vòng qua các làng rồi dừng ở một con suối với dòng nước đỏ lòe chảy qua làng Kon Jốt. Anh nói: “Mọi sinh hoạt ở đây đều trông vào nguồn nước này. Mùa khô còn được chứ mùa này thì bẩn lắm. Làng này không có hệ thống nước sạch, không có điện thắp sáng. Giáo viên ở đây ai cũng than, nhưng biết làm sao được…”! Nhọc nhằn, gian lao cho người thầy trên vùng đất này thì còn có muôn vàn. Ngay cả đến một cái giếng nước, một chỗ tắm giặt hay một nhà vệ sinh cũng chẳng có! Làng Kon Sơng Lôk, mới 3 giờ chiều, mặt trời đã khuất sau dãy núi. Lớp học của thầy Khâm với 2 trình độ (lớp 3 và lớp 4) quay hai hướng ngược nhau trở nên tối om. Học sinh lớp 4 lại phải ngồi học ở những chiếc bàn dành cho các em mẫu giáo. Sân trường lô nhô heo gà thả rông. Phòng học đã xuống cấp, tồi tàn chẳng khác nào khu nhà hoang. Rác thải, nước thải từ nhà dân; sình lầy, nhếch nhát đã nhiều năm ứ đọng tràn vào sân trường.
Theo thầy Nguyễn Thanh Tùng- Hiệu trưởng nhà trường cho biết: Trường chỉ có 17 phòng học thì đã có đến 13 phòng xuống cấp và 1 phòng tạm; phòng thư viện, thiết bị, phòng bộ môn, nhà công vụ… đều thiếu. Hiện nay, trường đang cần thêm ít nhất 6 giáo viên tiểu học và 5 giáo viên THCS. Năm học 2007-2008, trường được tiếp nhận thêm 7 giáo viên, thế nhưng đã có 5 giáo viên bỏ việc ngay ngày đầu tiên vào trường. Thậm chí có những trường hợp, khi vừa đặt chân tới cổng trường thì lại quay về mà chẳng thèm nộp quyết định nhận công tác.
Có thể nói, nỗi nhọc nhằn của các thầy-cô giáo ở đây thì không kể hết. Thế nhưng, bao năm qua, những người thầy nơi đây vẫn lặng lẽ cống hiến sức trẻ cho sự nghiệp giáo dục vùng khó này. Họ bám lớp, bám làng; cùng ăn, cùng ở với dân làng để hoàn thành sứ mệnh của một người “gieo chữ”. Họ không ngại gian khó, không một lời so bì với đồng nghiệp ở nơi thuận lợi. Và, họ vẫn hy vọng về tương lai tươi sáng hơn của nền giáo dục nơi đây.
Thu Nga

