722
Kinh tế
Kinh tế
/channel/722/
kinhte
250036
0
121
null
BaoGiaLai
.

Để sản xuất cà phê bền vững

Cập nhật lúc 11:54, Thứ Sáu, 26/02/2010 (GMT+7)
Ảnh: Huy Tịnh
Ảnh: Huy Tịnh

Năm 2009, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,15 triệu tấn cà phê, đạt kim ngạch 1,75 tỉ USD (tăng 14,9% sản lượng nhưng giảm 19,2% trị giá). Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu cà phê đứng thứ hai thế giới, có năng suất bình quân đạt loại cao nhất thế giới.

Tuy nhiên ngành cà phê Việt Nam đang đương đầu với những thách thức lớn: Giá cà phê nước ta hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường thế giới, chất lượng sản phẩm thấp chủ yếu do những hạn chế trong công tác thu hái và sơ chế, môi trường sinh thái bị hủy hoại do sự thâm canh quá mức của người trồng cà phê…

Bộ Nông nghiệp và PTNT cho biết, vì những hạn chế nêu trên mà chất lượng hạt cà phê Việt Nam bị giảm ít nhất 10% giá trị khi xuất khẩu. Với kim ngạch xuất khẩu khoảng 2 tỉ USD/năm như hiện nay, người trồng cà phê bị thiệt hại không dưới 200 triệu USD.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Gia Lai có khoảng 76.368 ha cà phê, năng suất trung bình xấp xỉ 2 tấn nhân/ha. Cùng với sự tăng trưởng của ngành cà phê là sự phát triển tự phát trong việc mở rộng diện tích. Người trồng cà phê đã tiến hành mở rộng diện tích trồng mà không chú ý đến các yêu cầu về kỹ thuật. Điều này đã dẫn đến một hậu quả tất yếu là: Đa số các vườn sinh trưởng và phát triển không đồng đều trên cả hai phương diện năng suất và chất lượng. Năng suất vườn cà phê không có sự đồng đều qua các năm, kích cỡ hạt bé, tỷ lệ tươi/nhân cao… Thêm vào đó đã thấy có sự xuất hiện của nhiều loại dịch bệnh gây hại cây cà phê.

Để có một ngành sản xuất cà phê bền vững trên cả ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường, theo chúng tôi cần tiến hành đưa nhanh các giống cà phê vối đã được Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (Viện Ea Kmat) tuyển chọn và đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận, đó là các giống TR4, TR5, TR12, TR13. Đây là các giống có năng suất cao, hạt nhân lớn, đồng đều và khả năng kháng bệnh gỉ sắt cao. Phương pháp để đưa các giống mới này vào sản xuất thông qua ba biện pháp là: Sử dụng cà phê ghép (gốc ghép là cà phê mít, chồi ghép là của các giống cà phê nêu trên), cưa ghép cải tạo các cây cà phê không đạt yêu cầu, trong tái canh cà phê cần thiết phải sử dụng các giống đã được chọn lọc.

Cần khuyến cáo các hộ trồng cà phê bón phân trên cơ sở khoa học (nhu cầu cây, khả năng cung cấp của đất), tránh tình trạng bón phân quá nhiều như hiện nay, vừa lãng phí, vừa giảm lợi nhuận và làm ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, cần hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc trừ sâu bệnh bừa bãi như hiện nay.

Trong tình hình nguồn nước (cả nước mặt và nước ngầm) ngày càng cạn kiệt như hiện nay, việc sử dụng nước tưới cho cà phê cũng phải được khuyến cáo cho các hộ trồng cà phê với lượng vừa đủ (500-600 lít/cây/lần tưới), tránh tình trạng tưới cà phê vô tội vạ như hiện nay. Khi trồng mới và tái canh cần thiết phải trồng cây che bóng, chắn gió và các loại cây họ đậu để khôi phục lại độ phì đất; đối với các vườn cây đang kinh doanh cần thiết phải khôi phục lại hệ thống cây che bóng bằng các loại cây họ đậu như: Muồng đen, keo dậu hoặc các loại cây ăn quả phù hợp khác.

Ngành Nông nghiệp và PTNT cần khuyến cáo cho các hộ trồng cà phê biết rằng nếu hái xanh thì năng suất cà phê nhân sẽ giảm từ 5% đến 20% so với hái chín và trên hết là cần đưa ngay Bộ TCVN 4193-2005 về chất lượng cà phê nhân vào sản xuất và xuất khẩu để tăng cường vai trò giám sát của Nhà nước. Từ đó sẽ hình thành cơ chế giá thu mua cà phê nhân theo chất lượng (sẽ hạn chế dần việc mua cà phê nhân theo số lượng đang rất phổ biến hiện nay).

Hiện nay, các đơn vị sản xuất cà phê tập trung đã bắt đầu thực hiện các hoạt động để được cấp các chứng chỉ về chất lượng cà phê nhân có giá trị trên toàn cầu như: 4C, Utz… Đây chính là tiền đề để nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh hạt cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới.

Hy vọng trong tương lai không xa việc sản xuất cà phê của Tây Nguyên nói chung và của Gia Lai sẽ thật sự bền vững, qua đó nâng cao thu nhập cho người trồng cà phê, góp phần cải thiện môi trường.

Võ Như Phúc

.
.
.
.
.