Bên dòng K’Rông Nô
Nói đến sông K’Rông Nô (Lâm Đồng) người ta nghĩ ngay đến dòng âm thanh lóng lánh của đàn đá, đến âm hưởng của cồng chiêng, đến những buôn làng của người M’Nông, Cơ Ho…
Nối liền nhau bởi sông K’Rông Nô, các xã: Đạ Long, Đạ Tông, Đạ Mrông, Rô Men, Đạ Rsan… của huyện Đam Rông là nơi cộng cư của 20 tộc người. Trong đó có 3 nhóm dân tộc thiểu số là M’Nông, Mạ, Cơ Ho; các nhóm còn lại như người Kinh, H’Mông, Dao, Mường… mới di cư tới đây chưa đầy 15 năm.
![]() |
| Ảnh: Đinh Thị Nga |
Một trong những đặc trưng nổi bật của các dân tộc thiểu số nơi đây là việc giữ gìn mạch ngầm văn hóa truyền thống, với những quan niệm lạ lùng, thẳm sâu, minh triết về thiên nhiên, con người. Bản sắc văn hóa các tộc người này như một kho sử liệu vừa phong phú vừa bí ẩn.
Thông qua các cuộc điền dã dân tộc học, chúng tôi đã ghi nhận một hệ thống nhạc cụ làm nên không gian văn hóa cồng chiêng bên bờ sông K’Rông Nô: Bên cạnh bộ chiêng sáu cái, ba cái, được phân biệt làm hai loại: Chiêng giao (đồ cổ); chiêng sứ (đồ mới). Bộ đàn đá Đạ Long đã minh họa cho thú chơi đàn đá của các dân tộc thiểu số nơi đây. Hiện nay, còn vài cụ già làng vẫn dùng đá kêu để đuổi chim và vẫn sử dụng đàn đá một cách thuần thục. Chúng tôi khẳng định rằng đây là một vùng đất còn nhiều người biết làm khèn bầu nhất ở Nam Tây Nguyên. Một nhạc cụ độc đáo, riêng có ở người M’Nông là trống đất. Nhạc cụ thường được sử dụng khi đốt rẫy với ý định là chặn trời mưa…
Dàn nhạc cụ đó được sử dụng trong các lễ hội từ lễ cúng lúa, lễ cầu mưa, lễ kết bạn, đến lễ cầu trời, lễ cắm nêu, lễ đâm trâu… Âm thanh cồng, chiêng, khèn bầu… gắn với người Mạ, M’Nông, Cơ Ho từ lúc còn trong bụng mẹ, đến ngày làm lễ đặt tên, lễ cưới… rồi theo người về thế giới bên kia… Là tộc người ưa thích âm nhạc, những bản dân ca đậm màu sắc Tây Nguyên luôn vang trên bếp lửa, giữa cánh đồng, trên đường lên rẫy… ở đây từ em nhỏ, đến người già, ai ai cũng biết hát, biết múa. Bài hát tiếng chim Kút Ku kể về một vị thần phải lòng một cô sơn nữ, biến thành con chim cu gáy, theo nàng khi lên rừng hái rau, lúc xuống suối bắt cá… Bài hát như: Thư ơi là thư ơi, Bồ câu kêu kút ku, Tỏ tình… đều phảng phất trong âm hưởng của rừng, của các con suối hợp lưu tạo nên sông K’Rông Nô…
Phong cách tư duy của các tộc người ở đây thể hiện trong các câu chuyện cổ tích. Cốt truyện thường ca ngợi những chiến công, kỳ tích của các anh hùng huyền thoại; đề cập đến những con người chất phác, siêng năng, khỏe mạnh, tài giỏi; khắc phục thiên tai, diệt trừ thú dữ, đem lại yên vui cho buôn làng. Ở đây từ già đến trẻ đều có thể kể chuyện: Giết con rồng nước; Chuyện người anh hùng; Chuyện tình Đung Lang; Chuyện thần trăn; Chuyện người con đứt cổ; Chuyện con khỉ đứng cây; Chuyện tình bên dòng sông K’Rông Nô…
Nghi lễ, phong tục của người M’Nông, Cơ Ho được hình thành trên nền lối sống nương rẫy. Các nghi lễ, phong tục đều gắn với chu trình trồng lúa: từ khi chọn đất, phát, đốt, tỉa lúa, chăm sóc và thu hoạch. Chu trình đó được quy định bởi thiên nhiên, với hai mùa mưa, nắng. Hàng loạt các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng đã khắc sâu và cố định trong đời sống cộng đồng. Các nghi lễ liên quan đến sinh-lão-bệnh-tử thể hiện đời sống tâm linh và quan niệm của tộc người; gắn bó chặt chẽ với môi trường thiên nhiên và xã hội; xác lập nên mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng.
Đinh Thị Nga
